Câu 7

Trình bày đối tượng và những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vai trò của phép biện chứng đối với quá trình nhận thức?

Phép biện chứng duy vật là một trong 3 hình thức cơ bản của phép biện chứng( Phép BC chất phác, duy tâm và duy vật). Nó là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, theo định nghĩa của Ăng-ghen thì: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội laòi người và của tư duy”. Vì vậy:
1. Đối tượng của phép biện chứng duy vật: Nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, biến đổi và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.

2. Lịch sử phát triển của phép biện chứng: phép biện chứng đã ra đời từ thời cổ đại, trong lịch sử triết học đã hình thành nên 3 hình thức , đó là:

– Phép biện chứng chất phác, ngây thơ thời cổ đại: đại diện cho trường phái này là Hê-ra-clít đã coi sự vận động và phát triển của thế giới giống như dòng chảy của một dòng sông. Ngoài ý nghĩa vô thần, nó còn chống lại các quan niệm tôn giáo về thế giới, tuy nhiên phép biện chứng chất phác này ít có giá trị khoa học, sau này đã bị phép siêu hình phủ định.

– Phép biện chứng duy tâm: điển hình là phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen(triết học cổ điển Đức, thế kỷ XIX). Hê-ghen là người đầu tiên có công xây dựng một cách tương đối hoàn chỉnh phép biện chứng với hệ thống các khái niệm, phạm trù và những quy luật cơ bản. Song do thế giới quan duy tâm coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước thế giới, giới tự nhiên và xã hội chỉ là biểu hiện ra bên ngoài của “ý niệm tuyệt đối” nên Hê-ghen đã mắc phải sai lầm khi cho rằng biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật. Do đó, phép biện chứng của Hê-ghen là biện chứng duy tâm khách quan, thần bí, thiếu triệt để và thiếu khoa học.

– Phép biện chứng duy vật: do Mác và Ăng-ghen sáng lập vào giữa thế ky XIX và được Lê-nin phát triển hơn nữa vào đầu thế kỷ XX đã đem lại cho phép biện chứng một hình thức hoàn toàn mới về chất. (1,5 điểm)

3. Nội dung của phép biện chứng duy vật:

Gồm 2 nguyên lý(nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), 3 quy luật cơ bản(quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt ®ối lập, quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định)  và 6 cặp phạm trù với tính cách là những quy luật không cơ bản(cái chung và cái riêng; nội dung và hình thức; nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng; tất nhien và ngẫu nhiên; khả năng và hiện thực).  (2 điểm)

4. Vai trò của phép biện chứng duy vật đối sinh viên

– Xây dựng phương pháp xem xét giải quyết với quan điểm: khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Từ đó khắc phục cách xem xét trừu tượng, chung chung, phi lịch sử, siêu hình.

Khách quan: có nghĩa là…

Toàn diện: có nghĩa là…

Lịch sử: có nghĩa là…

Cụ thể: có nghĩa là…

Phát triển: có nghĩa là….

Vận dụng vào bản thân, cần liên hệ cụ thể, đối chiếu với phương pháp trên, chỉ ra những mặt nào đã làm được, mặt nào chưa làm được, tiếp tục bồi dưỡng theo phương pháp khoa học trên.

Nguồn giangvien.net [Vui lòng ghi rõ nguồn khi phát hành bài viết]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: